Cây Mắc Ca – Bí Kíp Trở Thành Triệu Phú Đơn Giản!

Cây mắc ca

Phóng viên Báo Điện tử Chính phủ đã phỏng vấn Phó Giáo sư Trần Quang Báo, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp Nhà nước.

Thưa ông, việc ra đời Đề án phát triển cây mắc ca giai đoạn và tầm nhìn 2050 có ý nghĩa như thế nào đối với việc phát triển loại cây này tại Việt Nam?

Ông Trần Quang Bảo: Mắc ca là một loại cây nhập nội đã được trồng ở Việt Nam từ năm 1990 và thuộc nhóm cây lâm sản ngoài gỗ trong danh mục loài cây trồng lâm nghiệp chính. Hiện nay, cả nước có 28 tỉnh trồng mắc ca, với tổng diện tích là 18.840 ha, chủ yếu tập trung ở hai vùng Tây Bắc và Tây Nguyên. Diện tích cho thu hoạch là 6.853 ha, với sản lượng năm 2021 ước đạt 8.514 tấn hạt tươi/năm.

Mặc dù đã có những kết quả tích cực trong việc phát triển mắc ca với tăng nhanh về diện tích và sản lượng, nhưng vẫn còn một số thách thức cần đối mặt. Việc phát triển mắc ca tự phát ở một số nơi, trồng không đúng quy trình kỹ thuật, sử dụng giống cây không rõ nguồn gốc, chất lượng không cao đã khiến nhiều diện tích cây sinh trưởng kém, sản lượng quả thấp hoặc không có quả.

Bên cạnh đó, quy trình chế biến mắc ca chưa đạt tối ưu, sản phẩm chưa tinh và chất lượng chưa cao, và thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng chưa được mở rộng đầy đủ. Hơn nữa, thiếu sự đồng bộ trong cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút sự tham gia của người dân và doanh nghiệp đầu tư vào phát triển mắc ca.

Nhằm giải quyết những vấn đề này, Đề án phát triển cây mắc ca giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt bởi Thủ tướng Chính phủ. Đề án này sẽ định hướng mục tiêu và giải pháp phát triển mắc ca bền vững, nhằm biến mắc ca trở thành một loại cây trồng quan trọng, đa mục đích, tăng thu nhập cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời góp phần phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.

Đây là cơ hội để nước ta trở thành một trong những nước hàng đầu thế giới về trồng, chế biến và xuất khẩu sản phẩm mắc ca, đặc biệt là ở các vùng miền núi và biên giới.

Cây mắc ca
Cây mắc ca

>> Xem thêm

Hạt mắc ca đã được trồng ở Tây Nguyên từ lâu. Thưa ông, thực trạng trồng rừng ở khu vực này hiện nay như thế nào so với quy hoạch khoảng ha trong đề án đã đề ra? Cây trồng này dự kiến sẽ thay đổi sinh kế của người dân như thế nào?

Ông Trần Quang Bảo: Tính đến tháng 5 năm 2021, diện tích mắc ca trồng tại vùng Tây Nguyên đạt 9.870 ha, trong đó 1.690 ha trồng thuần và 8.180 ha trồng xen, chiếm tổng số diện tích mắc ca của cả nước là 52,4%. Khu vực Tây Nguyên chủ yếu thực hiện trồng xen canh cây mắc ca với các cây công nghiệp và cây nông nghiệp khác như cà phê, chè, hồ tiêu.

Sản lượng mắc ca đang được thu hoạch trên diện tích 5.228 ha, chiếm 53% diện tích trồng mắc ca, và diện tích có năng suất ổn định là 215 ha. Năng suất trung bình của mắc ca đạt 4,0 tấn hạt tươi/ha đối với phương thức trồng thuần và 2,8 tấn hạt tươi/ha đối với phương thức trồng xen với cây trồng khác. Dự kiến sản lượng mắc ca khu vực Tây Nguyên năm 2021 đạt 6.522 tấn.

Theo kế hoạch phát triển vùng trồng đến năm 2030, khu vực Tây Nguyên sẽ mở rộng diện tích trồng lên 45.000 ha, cần phát triển thêm 35.130 ha, trong đó có 27.000 ha trồng xen với cây công nghiệp và cây nông nghiệp khác như cà phê, chè, hồ tiêu và 8.130 ha trồng cây mắc ca thuần.

Về hiệu quả kinh tế, đến năm 2030, khu vực Tây Nguyên dự kiến có khoảng 25.000 ha đất trồng cây mắc ca sẽ cho thu hoạch, trong đó có 5.000 ha trồng cây mắc ca thuần và 20.000 ha trồng xen. Năng suất bình quân đạt 3 tấn hạt/ha đối với trồng thuần và 1,5 tấn hạt/ha đối với trồng xen. Giá bán mắc ca được dự báo ổn định theo giá thế giới khoảng 65.000 đồng/kg.

Hiệu quả kinh tế của cây mắc ca trồng thuần đạt khoảng 195 triệu đồng/ha/năm và đối với trồng xen là 97 triệu đồng/ha/năm. Tổng sản lượng mắc ca ước đạt 45.000 tấn hạt. Với giá bán ổn định của sản phẩm thành phẩm theo thị trường quốc tế, ước tính doanh thu đạt khoảng 4.000 tỷ đồng.

Nhờ hiệu quả kinh tế ưu việc này, việc trồng cây mắc ca đang được kỳ vọng sẽ thay đổi tập quán canh tác của người dân vùng Tây Nguyên, tạo ra những cơ hội phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của cộng đồng này.

Cây mắc ca
Phó giáo sư Chen Guangbao, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, trồng mắc ca trên đất ở Tây Nguyên – Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Xin ông cho biết Tổng cục Lâm nghiệp đã chuẩn bị những gì để triển khai dự án?

Ông Trần Quang Bảo: Tổng cục Lâm nghiệp đã đưa ra kế hoạch triển khai và hướng dẫn thực hiện Đề án phát triển cây mắc ca có hiệu quả. Các đơn vị tiếp tục nghiên cứu và chọn tạo, nhập nội, khảo nghiệm để phát triển bộ giống cây mắc ca đa dạng, có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đồng thời chống chịu sâu bệnh hại và thích nghi với các tiểu vùng sinh thái. Hiện đã có 13 dòng mắc ca được công nhận cho năng suất và chất lượng cao, và 10 dòng đang được thử nghiệm để bổ sung nguồn giống sản xuất.

Với việc công nhận 11 vườn cây đầu dòng và 26 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây mắc ca, năng lực sản xuất trong năm 2021 ước đạt khoảng 1.790.000 cây ghép. Nếu trồng thuần, số giống này có thể đáp ứng diện tích 6.393 ha (mật độ 280 cây/ha) hoặc 14.917 ha nếu trồng xen (mật độ 120 cây/ha).

Để tạo đủ nguồn vật liệu sản xuất giống, Tổng cục Lâm nghiệp tiếp tục xây dựng hệ thống vườn cây đầu dòng, đặc biệt tập trung vào vùng Tây Bắc và Tây Nguyên. Đồng thời, cũng đang hoàn thiện và chuyển giao công nghệ nhân giống vô tính cây mắc ca ở quy mô công nghiệp, nhằm nâng cao năng lực sản xuất giống và cung cấp đủ giống đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ trồng mới và ghép cải tạo theo mục tiêu của Đề án.

Để hỗ trợ phát triển cây mắc ca, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, sơ chế và bảo quản mắc ca, cũng như tiêu chuẩn giống cây trồng cây mắc ca. Tổng cục Lâm nghiệp tiếp tục xây dựng và chuyển giao quy trình trồng thuần và trồng xen cây mắc ca cho từng tiểu vùng, cũng như quy trình sản xuất mắc ca theo hướng công nghệ cao, quy trình nông nghiệp tốt như VietGAP, GlobalGAP và nông nghiệp hữu cơ, nhằm đảm bảo sản phẩm mắc ca chất lượng, an toàn và cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

Ngoài ra, Tổng cục cũng đang tiếp tục nghiên cứu, đề xuất và xây dựng cơ chế, chính sách liên quan đến cây mắc ca và cây trồng lâm nghiệp khác, nhằm trình cơ quan có thẩm quyền ban hành để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của ngành trồng cây mắc ca và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế và xã hội của địa phương và cả nước.

Hạt mắc ca được bán tại ăn vặt nhanh – anvatnhanh.vn

Hạt Mac Ca 500gr – Hũ pet 930ml QV23331-0

 

Thưa ông, làm thế nào để khuyến khích người dân và doanh nghiệp cùng hợp tác trồng cây mắc ca trong dự án này?

Ông Trần Quang Bảo : Hiện nay, đã có nhiều mô hình liên kết sản xuất mắc ca theo chuỗi giữa các doanh nghiệp với người dân, từ khâu trồng, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Mô hình này đảm bảo sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và người nông dân, giúp tăng cường hiệu quả sản xuất và tiêu thụ mắc ca.

Ví dụ, Công ty Cổ phần tập đoàn Liên Việt đã thành lập các công ty phát triển cây mắc ca và ký kết hợp đồng với các hộ nông dân. Công ty cung cấp giống mắc ca chất lượng, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và cam kết đền bù thiệt hại nếu cây không có quả sau 5 năm trồng. Hơn nữa, Công ty bao tiêu sản phẩm với giá đảm bảo ít nhất 85% giá mắc ca tại thị trường Australia trong 10 năm tới.

Tương tự, tại Tây Nguyên và Tây Bắc cũng đã hình thành nhiều mô hình liên kết sản xuất mắc ca. Các doanh nghiệp cung cấp cây giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng, trong khi người dân thực hiện công việc trồng, chăm sóc và thu hoạch. Doanh nghiệp tiếp tục mua lại mắc ca từ người dân với giá cao hơn thị trường.

Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số khó khăn và hạn chế trong quá trình liên kết sản xuất mắc ca. Sự liên kết chưa thực sự chặt chẽ và chưa có sự can thiệp cụ thể của Nhà nước để đảm bảo người trồng mắc ca không bị ép giá và thua lỗ.

Nhằm khắc phục tình trạng trên, Nhà nước cần thúc đẩy các chính sách khuyến khích doanh nghiệp liên kết với nông dân sản xuất mắc ca thông qua cầu nối hợp tác xã và tổ hợp tác xây dựng vùng trồng cây mắc ca tập trung. Đồng thời, cần đầu tư vào hạ tầng cơ sở và hỗ trợ kỹ thuật cho hợp tác xã và tổ hợp tác sản xuất mắc ca, nhằm nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động của họ.

Cũng cần thiết hơn nữa là đề cao vai trò và sức mạnh của hợp tác xã, tập trung vào tăng cường năng lực và phát triển hợp tác xã trong việc trồng mắc ca, từ đó tạo sự đồng thuận và đồng lòng trong việc phát triển ngành cây mắc ca cả về chiều rộng và chiều sâu.

Trồng cây mắc ca tại tỉnh Điện Biên - Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Trồng cây mắc ca tại tỉnh Điện Biên – Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Để đạt được sản lượng cây trồng lớn, chế biến và tiêu thụ luôn là bài toán khó nhất. Câu chuyện này sẽ được tính như thế nào trong việc triển khai đề án phát triển cây mắc ca tại Việt Nam?

Ông Trần Quang Bảo: Hiện nay, tình hình chế biến mắc ca ở Việt Nam còn phải cải thiện, với sự phân bố không đồng đều và thiếu đầu tư công nghệ hiện đại. Tính đến tháng 5/2021, cả nước chỉ có 65 cơ sở sơ chế, chế biến mắc ca, chủ yếu tập trung ở tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk. Các cơ sở này có công suất từ 10 tấn/năm đến trên 1.000 tấn/năm.

Công nghệ và thiết bị sơ chế, chế biến mắc ca hiện tại vẫn đơn giản, như máy sấy hạ ẩm, sấy hạt và dập hạt. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp đã đầu tư vào công nghệ hiện đại để sản xuất sản phẩm sữa mắc ca và các sản phẩm pha chế khác như sữa hạt mắc ca, bột dinh dưỡng mắc ca, cafe mắc ca, dầu ăn, dầu gội.

Tuy xuất khẩu mắc ca của Việt Nam đang có mức tăng trưởng khá tốt, song kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu mắc ca vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Việc khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các cơ sở sơ chế, chế biến mắc ca gắn với vùng trồng nguyên liệu ở Tây Bắc và Tây Nguyên là một cách hiệu quả để tăng cường sản xuất và tạo công ăn việc làm cho địa phương này.

Theo đề án, cần nâng cấp 65 cơ sở sơ chế, chế biến hiện có và xây dựng thêm khoảng 300 – 400 cơ sở mới, mỗi cơ sở với công suất từ 100 – 200 tấn hạt/năm. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư xây dựng 8 nhà máy chế biến sâu các sản phẩm mắc ca có giá trị cao, với công suất từ 10.000 – 15.000 tấn hạt tươi/năm, tại những địa phương có điều kiện thuận lợi.

 

Nguồn bài viết: Internet
——————————————

40 thoughts on “Cây Mắc Ca – Bí Kíp Trở Thành Triệu Phú Đơn Giản!

  1. Khánh Hòa says:

    Tầm nhìn 2050 của Đề án phát triển cây mắc ca sẽ là bước đột phá trong việc đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ cây mắc ca, góp phần vào sự phát triển kinh tế và bền vững của Việt Nam.

    • Mr Lập says:

      Đúng, tầm nhìn dài hạn sẽ định hình và phát triển cây mắc ca thành một ngành nông nghiệp thú vị và tiềm năng cho tương lai.

  2. Thảo Vy says:

    Dự án này cần có chiến lược quảng bá và tiếp thị hiệu quả để tạo sự quan tâm và sự ủng hộ của công chúng và doanh nghiệp.

    • Mr Lập says:

      Đúng, tiếp thị và quảng bá sẽ giúp nâng cao ý thức và đánh giá tích cực về cây mắc ca.

  3. Quốc Bảo says:

    Cây mắc ca có tiềm năng trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp thực phẩm và dược phẩm.

  4. Thùy Linh says:

    Việc định hướng dài hạn cho dự án phát triển cây mắc ca tạo niềm tin và đầu tư bền vững cho người dân và doanh nghiệp.

  5. Trường Giang says:

    Nếu thành công, dự án này sẽ góp phần giải quyết vấn đề việc làm và cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn.

    • Mr Lập says:

      Đúng, việc trồng cây mắc ca có thể tạo ra nhiều việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.

  6. Ngọc Diệp says:

    Công nghệ chế biến và bảo quản cây mắc ca cũng là yếu tố quan trọng để tận dụng đầy đủ giá trị của sản phẩm.

    • Mr Lập says:

      Chính xác, công nghệ chế biến sẽ giúp tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng từ cây mắc ca.

  7. Đức Anh says:

    Nghiên cứu khoa học về cây mắc ca và ứng dụng công nghệ cao là cần thiết để tối ưu hóa sản lượng và chất lượng cây trồng.

    • Mr Lập says:

      Đúng, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sẽ giúp tăng cường hiệu suất của cây mắc ca.

  8. Lâm Anh says:

    Dự án phát triển cây mắc ca cần có chính sách hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho người dân để khuyến khích trồng cây.

    • Mr Lập says:

      Đúng, đào tạo và trang bị kiến thức chuyên môn là cần thiết để triển khai dự án hiệu quả.

  9. Thu Hà says:

    Dự án phát triển cây mắc ca cần có kế hoạch quản lý rừng và sử dụng đất bền vững để đảm bảo hiệu quả và bảo vệ môi trường.

  10. Xuân Hương says:

    Lợi ích kinh tế từ việc trồng cây mắc ca có thể đưa vào các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng.

  11. Quang Huy says:

    Việc phát triển cây mắc ca cần sự hợp tác của ngành công nghiệp chế biến, phân phối và tiêu thụ.

    • Mr Lập says:

      Đúng, trồng cây mắc ca có thể cải thiện đất đai và bảo vệ môi trường khỏi sự thoái hóa.

    • Mr Lập says:

      Cây mắc ca có khả năng chịu hạn tốt và ít bị sâu bệnh, điều này giúp giảm thiểu rủi ro cho người trồng.

  12. Hải Yến says:

    Dự án phát triển cây mắc ca sẽ thúc đẩy đổi mới nông nghiệp và tăng cường giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng.

    • Mr Lập says:

      Rất đúng, việc phát triển cây mắc ca có thể tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh và gia tăng giá trị sản phẩm.

  13. Phương Trinh says:

    Làm thế nào để khuyến khích người dân và doanh nghiệp cùng hợp tác trồng cây mắc ca trong dự án này?

    • Mr Lập says:

      Chính phủ cần tạo ra chính sách hỗ trợ, giảm thiểu rủi ro đầu tư và đưa ra các chương trình khuyến khích hấp dẫn để thu hút người dân và doanh nghiệp tham gia.

    • Mr Lập says:

      Việc trồng cây mắc ca sẽ mang lại nguồn thu nhập mới cho người dân nông thôn và cải thiện điều kiện sống của họ.

  14. Hoàng Dương says:

    Việc ra đời Đề án phát triển cây mắc ca giai đoạn và tầm nhìn 2050 có ý nghĩa như thế nào đối với việc phát triển loại cây này tại Việt Nam?

    • Mr Lập says:

      Đề án sẽ tạo cơ hội phát triển cây mắc ca thành nguồn nguyên liệu và thực phẩm quan trọng trong kế hoạch nông nghiệp bền vững của Việt Nam.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn cần hỗ trợ?